Phương thức tổ chức cho vay tiêu dùng

0

Phương thức tổ chức cho vay tiêu dùng được chia thành 02 hình thức riêng biệt là cho vay tiêu dùng gián tiếp và cho vay tiêu dùng trực tiếp

1. Cho vay tiêu dùng gián tiếp (Indirect Consumer Loan):

Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:

  • Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng.
  • Cho phép ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay.
  • Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác.
  • Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt. CVTD gián tiếp an toàn hơn CVTD trực tiếp.

Bên cạnh một số ưu điểm vừa kể, Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau:

  • Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng dã được bán chịu.
  • Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ly bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hóa.
  • Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao.

Do những nhược điểm kể trên nên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà với CVTD gián tiếp. Còn những ngân hàng nào tham gia vào hoạt động này thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.

Các biện pháp kiểm sóat tín dụng sử dụng trong CVTD gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức truy đòi sau:

  1. Tài trợ truy đòi toàn bộ (Full Recourse Financing): Theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu, khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
  2. Tài trợ truy đòi hạn chế (Limited Recourse Financing): Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa thuận giữa ngân hàng với công ty bán lẻ. Dưới dây là các thỏa thuận thường gặp trong trường hợp truy đòi hạn chế:
    • Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong trường hợp (1) nếu người mua chịu không đủ tiền để trả trước một số tiền nhất định khi mua chịu hoặc (2) không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng đề ra.
    • Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịu cho đến khi ngân hàng thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất định đúng hạn.
    • Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn theo một tỷ lệ nhất định so với tổng số nợ trong một thời hạn nhất định.
    • Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn trong phạm vi số tiền dự phòng ký gởi tại ngân hàng. Thường số tiền dự phòng được trích từ chênh lệch giữa chi phí tài trợ mà công ty bán lẻ tính cho người mua chịu và chi phí tài trợ mà ngân hàng tính cho công ty bán lẻ. Đây là trường hợp được các ngân hàng áp dụng phổ biến nhất.

Số tiền dự phòng ký gởi tại ngân hàng có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng khi người mua chịu không trả nợ hoặc trả nợ trước hạn. Sau đây là ví dụ minh họa cho vấn đề vừa nêu.

Ví dụ 8.3. Một công ty bán lẻ bán chịu một tài sản với giá 80.000.000 đồng cho một người tiêu dùng. Theo hợp đồng, người tiêu dùng sẽ trả số tiền này, cộng với lãi mua chịu (lãi suất là 1,25%/tháng) trong vòng 36 tháng, số tiền phải thanh toán hàng tháng được tính theo phương pháp hiện giá là

T =(80.000.000 X (1+0.0125)^36 X 0.0125)/ ((1+0,0125)^36 –1) = 2.773.200 đồng

vừa bán chịu xong, do thiếu hụt nguồn vốn kinh doanh, công ty bán lẻ đem khoản tín dụng nói trên bán cho ngân hàng. Nếu khoản tín dụng hội đủ các điều kiện đã thỏa thuận (trước khi thực hiện giao dịch này đã có những thỏa thuận về các điều kiện mua lại hợp đồng bán chịu), ngân hàng sẽ mua lại khoản nợ nói trên của công ty bán lẻ với lãi suất tái tài trợ là 1.2%. Ngoài ra, công ty bán lẻ còn bị yêu cầu để lại ngân hàng 25% số tiền chênh lệch giữa phần lãi công ty bán lẻ tính cho người tiêu dùng và phần lãi ngân hàng được hưởng. Phần tiền lãi công ty bán lẻ tính cho người tiêu dùng trong 36 tháng là 19.835.200 đồng (lãi suất 1.25%): còn phần tiền lãi ngân hàng được hưởng là 15.657.200 đồng (lãi suất 1.20%). Như vậy, chênh lệch giữa phần lãi công ty bán lẻ tính cho người tiêu dùng và phần lãi ngân hàng được hưởng là 4.178.000 đồng (19.835.200-15.657.200), 75% của số tiền này sẽ được chuyển cho công ty bán lẻ (tức là 3.133.500 đồng) còn 25% (tức là 1.044.500 đồng) sẽ được giữ lại ở ngân hàng để làm tiền dự phòng. Nếu có rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ sử dụng số tiền này để bù đắp thiệt hại.

Cũng ví dụ 8.3 trên, giả sử công ty bán lẻ tính lãi bán chịu theo phương pháp gộp, với lãi suất là 9%/năm và thời hạn bán chịu cũng là 3 năm. Khi tái tài trợ, ngân hàng cũng tính lãi cho công ty bán lẻ theo phương pháp gộp, lãi suất là 7%/năm. Trong trường hợp này, nếu khoản nợ được trả dần cho đến khi kết thúc hợp đồng thì:

  • Phần lãi người tiêu dùng phải trả là 80.000.000 X 0,09 X 3 =21.600.000 đồng
  • Phần lãi ngân hàng nhận được là 80.000.000 X 0,07 X 3 =16.800.000 đồng.
  • Chênh lệch giữa phần lãi người tiêu dùng phải trả và phần lãi ngân hàng nhận được là 4.800.000 đồng (bằng 21.600.000- 16.800.000).
  • Phần lãi chênh lệch được chuyển cho công ty bán lẻ là 0,75 X 4.800.000 = 3.600.000 đồng.
  • Phần lãi chênh lệch được giữ tại ngân hàng là 0,25 X 4.800.000 = 1.200.000 đồng.

Vì tổng số tiền lãi người tiêu dùng phải trả nói trên được tính toán dựa trên giả định rằng cho đến lúc kết thúc hợp đồng thì tiền mua chịu hàng hóa mới được hoàn trả hết: nếu người tiêu dùng mất khả năng thanh toán thì tổn thất về vốn gốc và lãi ngân hàng sẽ thu hồi từ quỹ dự phòng. Trong những trường hợp như vậy. Quy tắc 78 có thể được áp dụng- Ta có bảng sau:

Bảng 8.4: Bảng tính toán lãi khách hàng phải trả và ngân hàng được nhận

Cuối nămPhần lãi phát sinh (%)Tổng số lãi người tiêu dùng phải trả (đồng)Phần lãi ngân hàng được nhận (đồng)Chênh lệch giữa phần lãi người tiêu dùng phải trả ngân hàng được nhận (đồng)
154,96^211.871.3609.233.2802.638.080
233,33^37.199.2805.599.4001.599.840
311,71^42.529.3601.967.280562.080
Tổng100,0021.600.00016.800.0004.800.000

 

Căn cứ vào bảng trên, sau hai năm mua chịu hàng hóa, nếu đến đầu năm thứ ba người tiêu dùng mất khả năng thanh toán. Trong trường hợp này phải xác định mức tổn thất để thu hồi từ quỹ dự phòng bao gồm:

Vốn gốc chưa thu hồi: 26.666.667

Lãi tổn thất: 3.632.720 (14.832.720 – 11.200.000)

Tổng cộng số tiền phải lấy từ qũy dự phòng là: 30.299.387 đồng

3) Tài trợ miễn truy đòi (Nonrecourse Financing): Theo phương thức này sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc chúng có được hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí tài trợ thường được ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được kén chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ có những công ty bán lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này.

4) Tài trợ có mua lại (Repurchase Financing): Khi thực hiện CVTD gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì ngân hàng thường phải thụ đắc tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thõa thuận trước thì ngân hàng có thể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đã được thụ đắc trong một thời hạn nhất định.

Vay tín chấp tiêu dùng ngân hàng Đông Á
Vay tín chấp tiêu dùng ngân hàng Đông Á

2. Cho vay tiêu dùng trực tiếp (Direct Consumer Loan)

Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này.

Trong CVTD trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ. Ngoài ra, trong hoạt động của mình nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của nhũng công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán cho được nhiều hàng. Bên cạnh đó, tại các điểm bán hàng, các quyết định tín dụng thường được đưa ra vội vàng và như vậy có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp ra một cách không chính đáng. Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình. Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng, điều này có thể được hạn chế.

CVTD trực tiếp có ưu điểm là linh hoạt hơn so với CVTD gián tiếp.

– Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thế phát sinh, có khả năng làm thõa mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng.

Phương thức tổ chức cho vay tiêu dùng
Đánh Giá Bái Viết

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.