Phương pháp xác định hạn mức tín dụng theo dự toán dòng tiền

0

Phương pháp xác định hạn mức tín dụng theo chênh lệch nguồn và sử dụng nguồn có hạn chế là hạn mức tín dụng phần nào thiếu linh hoạt do chưa gắn với diễn biến dòng tiền vào, ra trong họat động của doanh nghiệp.

Chính vì vậy, nên thời điểm giải ngân, thu nợ hoàn loàn chưa xác định được. Điều này gây khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý và giám sát thực hiện hạn mức tín dụng. Phương pháp xác định hạn mức theo dự toán dòng tiền khắc phục được nhược điểm này.

Tuy nhiên điều kiện để áp dụng phương pháp xác định hạn mức theo dòng tiền là khách hàng vay phải lập được đự toán lưu chuyển tiền tệ/ dự toán thu chi ngân quỹ trong suốt thời gian vay vốn (kỳ kế hoạch). Mặc dù hạn mức tín dụng thường được xác định cho khoảng thời gian 1 năm, nhưng dự toán dòng tiền lập trong khoảng thời gian càng ngắn thì càng chính xác (có thể là tuần, tháng, thậm chí hàng ngày).

Nguyên tắc xác định:

Căn cứ vào dự toán/ kế hoạch lưu chuyển tiền tệ trong kỳ và số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định tình trạng ngân quỹ thặng dư / thiếu hụt cuối kỳ, từ đó dự kiến số vay/ trả trong kỳ và hạn mức tín dụng

Các bước thực hiện:

Bước 1: Dựa trên dự toán dòng thu và chi do doanh nghiệp dự kiến, xác định ngân lưu ròng trong kỳ bằng cách lấy dòng thu trừ đi dòng chi.

Bước 2: Xác định tình trạng ngân quỹ cuối kỳ thông qua số dư ngân quỹ đầu kỳ và ngân lưu ròng trong kỳ. Có hai trường hợp xảy ra: ngân quỹ cuối kỳ thặng dư (số dương) hoặc thiếu hụt (số âm)

Bước 3: Xác định số vay ròng / trả ròng trong kỳ

Trong trường hợp doanh nghiệp không dự kiến số dư tiền tối thiểu (còn gọi là định mức tiền tối thiểu – đây là nhu cầu tiền thấp nhất mà doanh nghiệp phải dự trữ vào thời điểm cuối kỳ) thì số vay (ròng) trong kỳ tương đương với phần ngân quỹ thiếu hụt. Ngược lại nếu ngân quỹ thặng dư sẽ cho biết khả năng trả nợ (ròng) trong kỳ.

Trường hợp doanh nghiệp có quy định số dư tiền tối thiểu/ định mức tiền tối thiếu để phục vụ cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của mình thì số vay/ trả trong kỳ được tính như sau:

– Nếu ngân quỹ âm (thiếu hụt) ngân hàng sẽ cho vay bằng giá trị thiếu hụt cộng với số dư tiền tối thiểu.

– Nếu ngân quỹ cuối kỳ thặng dư nhưng phần thặng dư nhỏ hơn số dư tiền tối thiểu thì ngân hàng sẽ cho vay phần chênh lệch thiếu hụt đó

– Nếu ngân quỹ cuối kỳ thặng dư và phần thặng dư lớn hơn số dư định mức tiền thì phần chênh lệch thừa đó doanh nghiệp có thể sử dụng để trả nợ (mức trả cụ thể tùy thuộc số dư nợ ngân hàng tại đầu kỳ đó)

Như vậy, về nguyên tắc doanh nghiệp sẽ cần vay vào những kỳ có ngân quỹ thâm hụt, số tiền vay trong kỳ sẽ bao gồm phần bù đắp cho thâm hụt trong kỳ và nhu cầu dự trữ tiền cuối kỳ đó. Ngược lại, những kỳ ngân quỹ thặng dư doanh nghiệp sẽ có khả năng để trả nợ.

Bước 4: Xác định hạn mức tín dụng

Trên cơ sở số vay/ trả trong kỳ, ngân hàng xác định số dư nợ lũy kế vào cuối mỗi kỳ. Hạn mức tín dụng sẽ được ấn định theo số dư nợ lũy kế tại thời điểm cao nhất.

Ví dụ 3.5: Về cách tính hạn mức tín dụng theo dòng tiền

Đơn vị: triệu đồng

Khoản mụcTháng 1Tháng 2Tháng 3Tháng 4Tháng 5Tháng 6Tổng
Tổng thu2052002002452502851.385
Tổng chi2361563811611812011.316
Ngân lưu ròng-3144– 18184698469
Số dư tiền đầu kỳ655078505050
Thặng dư /Thâm hụt3494– 103134119134
Số dư tiền tối thiểu505050505050
(Vay)\Trả trong kỳ(16)16(153)84690
Dư nợ vay cuối kỳ1601536900
Hạn mức tín dụng153

 

Nhận thấy trong tháng 2, mặc dù tiền thặng dư 94, nhu cầu tiền tối thiểu là 50, khả năng trả nợ của doanh nghiệp là 44, nhưng doanh nghiệp chỉ trả 16 bằng số dư nợ đầu tháng 2, phần còn lại là 28 sẽ được cộng thêm với mức tiền tối thiểu là 50 và được chuyển sang tháng đầu tháng 3 là 78. Hạn mức tín dụng là số dư nợ tối đa mà doanh nghiệp được sử dụng trong kỳ, nên sẽ được ấn định theo số dư lũy kế cao nhất tại thời điểm tháng 3 là 153.

Phương pháp xác định hạn mức tín dụng theo dự toán dòng tiền
Đánh Giá Bái Viết

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.