Kỹ thuật cho vay từng lần tại các ngân hàng thương mại

0

Kỹ thuật cho vay từng lần tại các ngân hàng thương mại dựa trên các yếu tố: Kiểm soát bộ hồ sơ vay vốn, xác định hạn mức cho vay, Xác định thời hạn vay và các kỳ hạn nợ…

Kiểm soát bộ hồ sơ vay vốn

Như trên đã đề cập, cho vay từng lần liên quan đến từng phương án kinh doanh cụ thể. Vì vậy, ngoài phương án kinh doanh, tất cả các loại giấy tờ liên quan như: hợp đồng cung cấp nguyên liệu, hàng hóa đầu vào, hợp đồng/ đơn đặt hàng từ phía người tiêu thụ, các giấy phép xuất, nhập khẩu vật tư hàng hóa (nếu có) người vay đều buộc phải xuất trình, cho dù giá trị khoản vay có thể chỉ chiếm một tỷ lệ không cao trong tổng, nhu cầu vốn của phương án.

Về thủ tục vay vốn, sẽ có sự khác biệt giữa khách hàng mới quan hệ tín dụng lần đầu và khách hàng đã từng có quan hệ vay vốn trước đó. Cụ thể, đối với khách hàng lần đầu vay vốn thì những giấy tờ trong bộ hồ sơ pháp lý là thành phần không thể thiếu được. Trong khi các khách hàng đã vay trước đó thì chỉ cần bổ sung khi có sự thay đổi, chẳng hạn về người đại diện doanh nghiệp, người được ủy quyền, ngành nghề kinh doanh… Một thành phần nữa của bộ hồ sơ vay từng lần là các giấy tờ có liên quan đến loại hình bảo đảm tiền vay mà ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có. Thành phần của các loại giấy tờ này phụ thuộc vào hình thức bảo đảm tín dụng mà ngân hàng áp dụng đối với khoản vay.

Xác định mức cho vay

Mức cho vay được hiểu là giới hạn tối đa số tiền cho vay mà ngân hàng chấp nhận cho khách hàng sử dụng trong khoảng, thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng.

Mức cho vay được xác định dựa trên các yếu tố sau:

– Nhu cầu vay hợp lý và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng

– Giới hạn cung ứng vốn của ngân hàng

Mức cho vay là chỉ tiêu bắt buộc được ghi trong hợp đồng tín dụng, xuất phát từ sự thỏa thuận của cả hai phía ngân hàng và khách hàng, do vậy mức cho vay sẽ được ấn định bằng con số thấp nhất trong các yếu tố đã xác định nói trên.

Căn cứ vào cách tham gia của ngân hàng, có hai phương pháp xác định phần nhu cầu vay hợp lý:

Thứ nhất: Ngân hàng tham gia 100% vào từng đối tượng cụ thể (chẳng hạn chi phí mua vật tư, nguyên liệu; chi phí mua hàng hóa; chi phí trả tiền nhân công…) trong tổng nhu cầu của phương án kinh doanh. Các đối tượng khác (ngân hàng không cho vay) khách hàng sẽ dùng vốn tự có / vốn khác tự trang trải. Trường hợp này đối tượng khi giải ngân phải phù hợp với đối tượng xét cho vay ban đầu.

Thứ hai: Ngân hàng tính toán phần cho vay dựa vào tổng nhu cầu cần thiết của phương án kinh doanh trừ đi vốn tự có / vốn khác tham gia vào phương án. Cách tài trợ này gọi là tài trợ theo phần, tức là trong tổng nhu cầu vốn của phương án, ngân hàng có thể tài trợ một tỷ lệ % nhất định, không phân biệt rạch ròi đối tượng cho vay và đối tượng không cho vay khi giải ngân, miễn sao đối tượng đề nghị giải ngân là một trong các loại chi phí tham gia vào phương án vay là hợp lệ.

Ngoài vốn tự có doanh nghiệp có thể được chiếm dụng hợp pháp từ số nợ chậm trả người bán / tiền ứng trước của người mua hoặc các khoản nợ tích lũy như: tiền lương, thuế… chưa đến kỳ sử dụng. Đây là những nguồn vốn không phải trả lãi nên tận dụng nó vào kinh doanh rất có lợi cho doanh nghiệp, điều này sẽ làm giảm nhu cầu vay phải trả lãi cho ngân hàng.

Hình 2.1 Nhu cầu vay theo phương án

CÁC CHI PHÍ CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN, THƯƠNG VỤVỐN TỰ CÓ THAM GIA VÀO PHƯƠNG ÁN
NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI CUNG CẤP, TIỀN ỨNG TRƯỚC CỦA NGƯỜI MUA…
NHU CẦU VAY NH

Khi tính toán nhu cầu vay trong, cho vay từng lần, thời hạn của khoản trả chậm có thể ảnh hưởng tới việc xác định số tiền dự kiến vay ngân hàng. Nếu doanh nghiệp được chấp nhận trả chậm khi mua hàng nhưng thời điểm phải thanh toán rơi vào lúc doanh nghiệp vẫn đang thực hiện phương án, chưa có tiền thu bán hàng hoặc thu nhập khác để trả, thì số tiền trả chậm đó không được tính như nguồn vốn được chiếm dụng. Vì vậy nó vẫn là một nhu cầu vay của doanh nghiệp.

Trong hình 2.2, trường hợp thời điểm thanh toán T1 nằm trong khoảng A – B, là lúc doanh nghiệp chưa có thu nhập để trả cho người cung cấp, nên số tiền trả chậm vẫn là một nhu cầu cần vay. Còn nếu thời điểm thanh toán khoản trả chậm mà diễn ra vào lúc kết thúc phương án (T3), hoặc khi doanh nghiệp đã có tiền thu bán hàng (T2) có thể để tự thanh toán cho người bán thì số tiền trả chậm được coi là một nguồn chiếm dụng hợp pháp làm giảm nhu cầu đề nghị vay của khách hàng.

Hình 2.2: Thời điểm thanh toán tiền trả chậm

Trong đó:

– Thời gian thực hiện phương án vay từ A – C (từ khi bất đầu mua vật tư cho đến khi thu toàn hộ tiền hàng về)

– Thời gian từ B – C là giai đoạn thu tiền bán hàng của phương án

Nhu cầu vay mặc dù được xác định hợp lý, nhưng chưa phải là mức cho vay, bởi vì nó còn phụ thuộc vào giới hạn cung ứng vốn của ngân hàng thương mại. Giới hạn cung ứng vốn của ngân hàng cho vay bị chi phối bởi các yếu tố như: khả năng nguồn vốn cho vay; giới hạn phân tán rủi ro theo luật quy định (hiện nay cho một khách hàng vay không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng) và các giới hạn phân tán rủi ro trong chính sách tín dụng của ngân hàng cho vay.

Trong thực tế các ngân hàng thương mại thường phân loại khách hàng vay thông qua một hệ thống xếp hạng tín nhiệm nội bộ. Độ rủi ro tổng thể của từng khách hàng sẽ được đánh giá bằng cách cho điểm. Căn cứ vào kết quả này, ngân hàng sẽ có một chính sách quản lý phù hợp đối với từng khách hàng. Chẳng hạn như yêu cầu về vốn đối ứng/ vốn tự có tham gia vào tổng nhu cầu cần thiết hay yêu cầu về tài sản đảm bảo… Những điều kiện này có thể không giống nhau giữa các khách hàng nếu độ rủi ro tổng thể thông qua điểm số của họ khác nhau. Tỷ lệ quy định về số tiền cho vay tối đa trên giá trị tài sản bảo đảm có thể dao động từ 50 – 80% tùy từng loại tài sản bảo đảm và hình thức đảm bảo. Điều này cũng không bắt buộc phải thống nhất giữa các ngân hàng.

Ví dụ 2.1: Tháng 6/2008 doanh nghiệp thương mại dịch vụ Huy Hoàng có nhu cầu vay để nhập một lô hàng hóa với giá gốc là 600 triệu đồng, thuế VAT 10% tính trên giá gốc hàng hóa, chi phí vận chuyển, bốc xếp hàng đến kho là 150 triệu đồng. Trong tổng số tiền phải thanh toán cho người bán, sau khi thương lượng, doanh nghiệp được trả chậm 20% cho đến khi tiêu thụ xong toàn bộ lô hàng. Để bảo đảm cho nợ vay, doanh nghiệp sử dụng bất động sản thế chấp với giá ước tính là 1.8 tỷ đồng. Ngân hàng cho vay có vốn tự có là 500 tỷ đồng. Chính sách tín dụng của ngân hàng quy định: tỷ lệ cho vay tối đa trên giá trị tài sản bảo đảm là 50% với bất động sản, 70% với động sản. Vốn tự có doanh nghiệp tham gia vào phương án là 100 triệu đồng.

Với các dữ kiện đã biết, ngân hàng xác định mức cho vay như sau:

– Nhu cầu vay từ phía doanh nghiệp:

{[600 + (600 * 10%)] + 150} – 100 – [600 + (600 * 10%)] * 20% = 578 triệu đồng

– Giới hạn cho vay của ngân hàng:

15% * 500 tỷ = 75 tỷ = 75.500 triệu đồng

50% * 1.800 triệu = 900 triệu đồng

– Mức cho vay của ngân hàng là 578 triệu đồng

Việc xác định mức cho vay không hợp lý mang lại những bất lợi cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. Nếu số tiền cho vay được xác định thấp hơn mức cần thiết, doanh nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng thiếu vốn, từ đó không thể hoàn thành kế hoạch kinh doanh dự kiến và ngân hàng sẽ bị động trong việc phải tiếp tục cung cấp thêm vốn để doanh nghiệp hoàn thành phương án kinh doanh và có tiền trả. Nhưng nếu số tiền cho vay cao hơn mức cần thiết sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng vào những hoạt động ngoài mục đích vay vốn và hậu quả của nó rất khó lường. Điều này cũng tạo tâm lý dễ dãi, nếu chặt chẽ trong việc xác định nhu cầu vay của doanh nghiệp. Để hạn chế điều này, một số ngân hàng thương mại áp dụng phí cam kết phần tiền vay không sử dụng hết, đây là biện pháp buộc doanh nghiệp phải tính toán chặt chẽ nhu cầu vay của họ khi ký hợp đồng tín dụng.

Ngoài nhu cầu vay, để xác định mức cho vay của phương án, ngân hàng còn phải dựa vào khả năng trả nợ hình thành từ dòng tiền mà phương án vay vốn tạo ra. Chẳng hạn khi ngân hàng cho doanh nghiệp sản xuất đường vay vốn để thực hiện một đơn hàng thì nguồn tiền bán hàng thu được từ phía người mua sản phẩm đường là nguồn tiền chủ yếu để trả nợ khoản vay. Trong trường hợp ngân hàng không xác định được dòng tiền này hoặc là dòng tiền dự kiến thu về quá thấp, không đủ trang trải toàn bộ gốc và lãi khi thời hạn vay kết thúc, thì ngân hàng sẽ phải tính toán lại mức cho vay cho phù hợp, đảm bảo khi phương án kinh doanh kết thúc toàn bộ tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ. Trong ví dụ 2.1 nói trên ngân hàng sẽ không thể cho vay toàn bộ 578 triệu đồng nếu số tiền bán hàng thực thu của phương án thấp hơn con số này.

Xác định thời hạn vay và các kỳ hạn nợ

Trong cho vay từng lần, thời hạn vay ghi trên hợp đồng tín dụng được hiểu là khoảng thời gian tính từ khi giải ngân lần đầu tiên cho đến khi ngân hàng thu hồi toàn bộ cả gốc và lãi.

Về nguyên tắc, cơ sở để xác định thời han vay là chu kỳ ngân quỹ của đối tượng vay vốn. Do vậy, trong cho vay từng lần, muốn xác định thời hạn vay chính xác ngân hàng phải hiểu rõ thời gian thực phương án vay vốn. Phương án có thể bắt đầu từ khi doanh nghiệp chi tiền cho các mục đích thanh toán vật tư, hàng hóa, trả lương… (thời điểm xuất hiện dòng tiền ra) cho đến khi tiền bán hàng được thu về dưới dạng tiền mặt hoặc trên tài khoản của khách hàng (thời điểm xuất hiện dòng tiền vào). Cũng có trường hợp thời điểm bắt đầu phương án tính từ khi doanh nghiệp mua vật tư, nguyên vật liệu (nhưng trả chậm tiền mua hàng) cho đến khi toàn bộ tiền bán hàng về. Như đã đề cập trong phần lý luận chung, khoảng thời gian tính từ khi xuất hiện dòng tiền ra cho đến khi có dòng tiền vào được gọi là chu kỳ ngân quỹ (T – T’). Chu kỳ ngân quỹ là giới hạn tối đa của thời hạn vay. Trên thực tế, thời hạn cho vay không nhất thiết phải bằng thời gian của chu kỳ ngân quỹ, mà có thể ngắn hơn do thời điểm bất đầu giải ngân tiền vay có thể chậm hơn so với thời điểm khách hàng chi tiền. Tuy nhiên thời điểm thu nợ của phương án phải trùng hợp với thời điểm khách hàng có thực thu về bán sản phẩm (trừ trường hợp doanh nghiệp có nguồn thu nhập khác dùng trả nợ sớm hơn). Phương pháp giải ngân và thu nợ như vậy thực chất là dựa vào dòng tiền để thực hiện.

Trong cho vay từng lần, thu nợ có thể được thực hiện một lần duy nhất hoặc chia ra làm nhiều kỳ hạn nợ cụ thể, về mặt lý thuyết, kỳ hạn nợ có thể hiểu là các khoảng thời gian nằm trong thời hạn vay, mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng hoàn trả toàn bộ một phần tiền gốc và lãi. Các ngân hàng thường ưa thích cách trả nợ theo nhiều kỳ hạn vì như vậy tạo ra một nguồn thanh khoản đều đặn cho ngân hàng, từ đó có thể tiếp tục sử dụng để cho vay các khoản mới. Tuy nhiên trong việc xác định các kỳ hạn trả nợ, ngân hàng không nên chỉ dựa vào ý muốn của mình mà cần căn cứ vào tính chất của nguồn thu nhập do khách hàng tạo ra, hay nói khác đi là căn cứ diễn biến của dòng tiền vào để lựa chọn thời điểm thu nợ thích hợp. Đây là yếu tố quan trọng trong kỹ thuật tác nghiệp của ngân hàng. Bởi lẽ rủi ro chậm trả có thể xuất phát từ việc định kỳ thu nợ không phù hợp, thiếu căn cứ khoa học. Nếu dòng tiền vào tập trung 1 đợt (thường đối với thu hoạch sản phẩm nông nghiệp) thì toàn bộ thời hạn vay chỉ cần 1 kỳ hạn nợ duy nhất, thu nợ vào lúc khoản vay đáo hạn. Nhưng nếu dòng tiền vào diễn biến tương đối đều đặn, ổn định (các công ty bán lẻ hàng hóa) thì ngân hàng có thể thu nợ nhiều lần vào các thời điểm có thực thu bán hàng. Trường hợp này, thời hạn vay sẽ được chia thành nhiều định kỳ ngắn, khớp với thời điểm có tiền bán hàng.

Để nắm chắc nguồn trả nợ trong cho vay từng lần, ngân hàng cho vay cần phải quản lý được nguồn thu bán hàng từ phương án kinh doanh vay vốn, (có thể đặt điều kiện tiền bán hàng phải thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng) đồng thời hiểu rõ thời điểm nào tiền sẽ về để tiến hành thu nợ đúng lúc. Quản lý được nguồn thu một cách chắc chắn cũng là mấu chốt để ngân hàng quyết định có cần thiết phải áp dụng biện pháp bảo đảm tín dụng hay không? Tuy nhiên, trên thực tế quản lý nguồn thu hán hàng và xác định thời điểm thu nợ là một 1 vấn đề không đơn giản, vì thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam diễn ra rất bất ổn, không đúng như dự kiến kế hoạch. Vì vậy, khi xét duyệt hồ sơ vay vốn ban đầu, ngân hàng bắt buộc phải dựa vào các kế họach bán hàng, hợp đồng tiêu thụ đã ký kết để xác định kỳ hạn nợ và mức thu nợ dự kiến. Nếu sau này, thị trường diễn biến khác đi ngân hàng sẽ điều chỉnh lại các kỳ hạn nợ và mức thu nợ cho phù hợp.

Ví dụ 2.2: trong ví dụ 2.1 nói trên để chứng minh nguồn trả nợ, doanh nghiệp xuất trình một hợp đồng tiêu thụ đã ký với bên mua trị giá 920 triệu đồng, theo đó hàng hóa sẽ được giao làm 3 đợt: đợt 1 giá 40% hợp đồng, các đợt sau 30%, bắt đầu từ cuối tháng 8, mỗi đợt giao hàng cách nhau một tháng, tiền bán hàng sẽ được thanh toán đầy đủ theo từng đợt nhận hàng. Dựa vào diễn tiến của tiền thu bán hàng nêu trên, ngân hàng có thể xác định thời hạn vay và kỳ hạn nợ như sau:

Căn cứ vào các đợt thu tiền về sẽ có 3 kỳ hạn nợ với các mức thu nợ gốc dự kiến:

– Tháng 8 thu (920 * 40%) * 71% = 261 triệu đồng

– Tháng 9 thu (920 * 30%) * 71% = 196 triệu đồng

– Tháng 10 thu nốt phần nợ gốc còn lại (121 triệu đồng) trong mức thu bán hàng là 276 triệu đồng

Lưu ý: 71% là tỷ lệ thu nợ gốc hai bên cùng thỏa thuận, giả sử ở đây là căn cứ vào tỷ lệ tham gia của vốn vay trong tổng nhu cầu vốn của phương án (578/810)

– Thời hạn cho vay sẽ là 5 tháng: tính từ đầu tháng 6 (lúc bắt đầu nhập hàng và giải ngân) cho đến cuối tháng 10 khi thu hết gốc và lãi.

Trong cho vay từng lần, cần lưu ý là kỳ hạn trả gốc và kỳ hạn trả lãi không, phải lúc nào cũng diễn ra đồng thời. Trong một số trường hợp, lãi có thể được hòan trả theo các kỳ hạn cố định (ví dụ hàng tháng) nhưng toàn bộ nợ gốc thì chỉ thu hồi khi kết thúc hợp đồng (trong cho vay sản xuất nông nghiệp có thể áp dụng kiểu thu nợ này). Ở ví dụ 2.2 nói trên ngân hàng xác định kỳ hạn thu gốc trùng với kỳ hạn thu lãi.

Giải ngân:

Mục tiêu của giải ngân là giảm thiểu ở mức thấp nhất hành vi sử dụng tiền vay sai mục đích từ phía khách hàng, do vậy giải ngân được xem như một nội dung kiểm soát trong khi cho vay của ngân hàng. Trên thực tế các ngân hàng thương mại thường xây dựng một quy trình giải ngân khá chặt chẽ, trong đó chỉ rõ nội dung công việc và sự phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình giải ngân.

Cũng tương tự như khi xác định các kỳ hạn nợ, ngân hàng phải tìm hiểu từ phía khách hàng để quyết định giải ngân như thế nào: một lần hay nhiều lần? tiền mặt hay chuyển khoản?… Giải ngân trong phương thức cho vay từng lần có thể được thực hiện một lần (toàn bộ mức cho vay) hoặc chia ra thành nhiều đợt. Điểm lưu ý trong kỹ thuật giải ngân của cho vay từng lần là tổng số tiền giải ngân tối đa bằng mức cho vay, doanh nghiệp không được nhận nhiều hơn số tiền này (đây là điểm khác biệt với kỹ thuật giải ngân trong cho vay theo hạn mức tín dụng).

Cơ sở để thực hiện giải ngân là mục đích và tiến trình sử dụng tiền của khách hàng. Nếu giải ngân là để thanh toán tiền mua vật tư, nguyên liệu thì căn cứ giải ngân sẽ là các hóa đơn chứng từ thanh toán theo đúng tiến độ khách hàng phải trả cho người cung cấp. Hình thức giải ngân (tiền mặt hoặc chuyển khoản) cũng tùy theo phương thức thanh toán giữa hai bên mà lựa chọn cho thích hợp. Nếu giải ngân là để thanh toán tiền công, lao động thì bảng kê theo từng đợt thanh toán công lao động là căn cứ để ngân hàng giải ngân. Trong trường hợp việc trả lương tại doanh nghiệp đã được thực hiện thông qua tài khoản sử dụng thẻ ATM thì hình thức giải ngân không thể là tiền mặt.

Thông thường mỗi lần có nhu cầu giải ngân, khách hàng sẽ xuất trình các giấy tờ cần thiết minh chứng cho mục đích giải ngân. Về phía ngân hàng sau khi xét thấy đối tượng giải ngân hợp lý (phù hợp mục đích vay vốn ban đầu) và số tiền yêu cầu giải ngân trong giới hạn cho phép (nhỏ hơn hoặc bằng mức cho vay còn lại) thì chấp nhận cho khách hàng rút tiền. Thủ tục bắt buộc đi kèm với việc nhận tiền vay là khách hàng phải ký vào giấy nhận nợ. Giấy nhận nợ là căn cứ pháp lý xác nhận số tiền giải ngân và cam kết hòan trả số tiền đó khi đến hạn của khách hàng. Số tiền giải ngân sẽ được ghi nợ vào tài khoản vay của khách hàng, và tuỳ mục đích sử dụng, ngân hàng có thể chuyển thẳng vào tài khoản của người cung cấp (nếu mục đích thanh toán tiền hàng) hoặc ghi có vào tài khoản của chính người vay (tuy nhiên đây là cách giải ngân ít được ngân hàng ưa chuộng)

Trong quá trình giải ngân, có thể có các trường hợp sau:

– Giải ngân 1 lần nhưng trả nợ nhiều lần theo các kỳ hạn. Trường hợp này chỉ lập một giấy nhận nợ có ghi các kỳ hạn trả như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

– Giải ngân nhiều lần sẽ có nhiều giấy nhận nợ được lập phù hợp với mỗi lần giải ngân. Trường hợp thu nợ gốc chỉ diễn ra một lần thì các giấy nhận nợ sẽ có cùng một kỳ hạn nợ. Tuy nhiên trong trường hợp kỳ hạn trả của từng giấy nhận nợ là khác nhau thì hạn trả của các giấy nhận nợ phải nằm trong thời hạn cho vay đã xác định (không được vượt quá). Việc xác định chúng là dựa vào các kỳ hạn trả nợ và khả năng trả nợ đã được dự kiến cùng với thời hạn cho vay ngay khi ký hợp đồng tín dụng.

– Giải ngân 1 lần thu nợ 1 lần (vay gọn trả gọn). Trường hợp này cũng sẽ chỉ có một giấy nhận nợ

Ví dụ 2.3: Trường hợp doanh nghiệp Huy Hòang nêu trên, với mức cho vay là 578 triệu đồng, khi tiến hành giải ngân doanh nghiệp xuất trình hóa đơn thanh toán cho người bán với số tiền 528 triệu đồng (80% tổng số tiền thanh toán) cùng với bảng kê chi phí vận chuyển bằng tiền mặt 50 triệu đồng. Ngân hàng sẽ giải ngân một lần toàn bộ mức cho vay 578 triệu đồng sau khi kiểm soát chứng từ, trong đó 528 triệu đồng chuyển khoản cho người cung cấp, còn 50 triệu đồng bằng tiền mặt để thanh toán chi phí vận chuyển theo bảng kê chi phí.

Thu nợ và xử lý nợ

Thu nợ là một nội dung của bước giám sát tín dụng, ở đây cần phải có sự phối hợp giữa bộ phận tín dụng và bộ phận kế toán để cho quá trình thu nợ được diễn ra suôn sẻ và có hiệu quả cao nhất. Mặc dù nhân viên kế toán là người trực tiếp thu, nhưng nhân viên cho vay là người đôn đốc nhắc nhở khách hàng trả nợ và kiểm tra tiến trình thu nợ. Sự phối hợp giữa bộ phận tín dụng và bộ phận kế toán thu nợ sẽ tạo điều kiện để có những đề xuất xử lý kịp thời khi việc trả nợ không theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ.

Như trên đã đề cập, căn cứ để ngân hàng thu nợ trong cho vay từng lần là các giấy nhận nợ đã được lập ra mỗi khi khách hàng nhận tiền vay. Thông thường số nợ gốc thu hồi được trích chuyển (ghi nợ) từ tài khoản tiền gửi của khách hàng, đồng thời ghi có vào tài khoản vay để ghi giảm dư nợ. Lãi thu cùng nợ gốc. Cách tính lãi tùy thuộc vào thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trong hợp đồng tín dụng, trên cơ sở quy định của từng ngân hàng. Nhưng thông thường có hai cách phổ biến sau:

– Lãi tính theo số dư nợ tồn tại ở đầu kỳ hạn nợ, được gọi là lãi tính trên dư nợ thực tế giảm dần.

– Lãi tính theo nợ gốc thu hồi trong từng kỳ hạn trả, theo cách tính này số lãi trả sẽ tăng dần.

(Xem sơ đồ trả lãi và cách tính lãi trong chương cho vay trung dài hạn).

Các ngân hàng có thể quy định lãi suất tiền vay cố định trong suốt thời gian ký hợp đồng tín dụng, nhưng cũng có thể điều chỉnh lãi suất theo từng kỳ hạn nhất định (ví dụ 3 tháng, 6 tháng) hoặc theo từng giấy nhận nợ. Quy định như vậy sẽ giúp cho ngân hàng và cả doanh nghiệp dễ ứng phó với những thay đổi lãi suất trên thị trường.

Liên quan đến quá trình thu nợ, một số kỹ thuật xử lý có thể được ngân hàng áp dụng, cụ thể:

– Cơ cấu lại thời hạn trả nợ: bao gồm 2 phương thức cơ bản là điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và gia hạn nợ. Trong đó:

– Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/ hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trước đó, mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi. Ví dụ một khoản vay có thời hạn 12 tháng, từ đầu tháng 1 cho đến cuối tháng 12, kỳ hạn trả lãi là hàng tháng, trả gốc là 1 quý 1 lần. Tuy nhiên sau đó khách hàng được ngân hàng chấp thuận điều chình kỳ hạn trả như sau: trả lãi hàng tháng, trả gốc 2 qúy 1 lần, nhưng thời hạn cuối cùng của khoản vay vẫn chấm dứt vào cuối tháng 12.

– Gia hạn nợ: là kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và / hoặc lãi vốn vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng. Ví dụ khoản vay có thời hạn 12 tháng nói trên. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, do những thay đổi ngoài dự kiến của thị trường tiêu thụ (dẫn đến khó khăn trong việc hoàn trả nợ như thỏa thuận ban đầu), khách hàng làm đơn đề nghị gia hạn nợ và ngân hàng chấp thuận gia hạn thêm 3 tháng, cuối tháng 3 năm sau là chấm dứt thời hạn của khoản vay đã được gia hạn.

– Chuyển nợ quá hạn là việc chuyển dư nợ vay (gồm gốc và lãi) sang tài khoản nợ quá hạn và dùng lãi suất cao (thường bằng 150% lãi suất trong hợp đồng) để kích thích khách hàng trả nợ. Trong ví dụ trên, giả sử sau 3 tháng gia hạn, khách hàng vẫn không thể hoàn trả nợ, ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ nợ vay chưa trả được sang tài khoản quá hạn và áp dụng lãi suất 15%/ năm kể từ thời điểm chuyển quá hạn (giả sử lãi suất ban đầu là 10%/ năm)

Trên đây là những biện pháp xử lý của ngân hàng khi khoản nợ vay có dấu hiệu bất thường, cảnh báo rủi ro tín dụng, vì vậy chúng cần được ngân hàng áp dụng một cách cẩn trọng.

Nhìn chung cho vay từng lần là một phương pháp cho vay khá đơn giản về kỹ thuật, quá trình giải ngân và quá trình thu nợ thường tách biệt nên dễ theo dõi, giám sát. Tuy nhiên thủ tục hồ sơ vay được xuất trình và xem xét trong từng món vay cụ thể. Do vậy, nếu doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng sản phẩm, nhu cầu vốn thiếu hụt thuộc nhiều phương án khác nhau, phát sinh liên tục thì phương pháp cho vay này không thích hợp.

Kỹ thuật cho vay từng lần tại các ngân hàng thương mại
Đánh Giá Bái Viết

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.