Khái niệm cơ bản về Bảo lãnh ngân hàng – Bank Guarantee

0

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng xuất hiện từ những năm 60 thế kỷ 20 trong thị trường nội địa nước Mỹ. Sau đó vào đầu những năm 70, bảo lãnh được phổ biến trong thương mại quốc tế, trong mối quan hệ giữa các nước phương Tây và các nước sản xuất dầu mỏ Trung Đông.

Tại Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng xuất hiện trong thời kỳ đầu những năm 90, chủ yếu giới hạn trong loại hình bảo lãnh vay nợ. Cho tới khi quyết định số 196/QĐ-NHNN ngày 16/9/1994 của ngân hàng Nhà nước được ban hành, các hình thức bảo lãnh ngân hàng mới được đưa ra khá đa dạng.

Sự phát triển của nền kinh tế cùng với các hoạt động xuất nhập khẩu, các giao dịch hợp đồng trong và ngoài nước… đã tạo môi trường thuận lợi cho quá trình mở rộng bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam. Sau khi Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực, ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 kèm theo quy chế bảo lãnh ngân hàng. Đến năm 2006 hành lang pháp lý cho bảo lãnh ngân hàng một lần nữa thay đổi với sự ra đời của quyết định 26/2006/QĐ-NHNN, ngày 26/06/2006, thay thế cho quyết định 283 sau gần 6 năm thực hiện.

Bảo lãnh ngân hàng Eximbank - Người bạn đồng hành cùng doanh nghiệp
Bảo lãnh ngân hàng Eximbank – Người bạn đồng hành cùng doanh nghiệp

Như đã đề cập ở trên, bảo lãnh là một trong các loại hình tín dụng chữ ký của ngân hàng. Theo quy định trong luật, khái niệm bảo lãnh ngân hàng như sau:

Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng/ tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng/ tổ chức tín dụng số tiền đã trả thay.

Sự khác biệt căn bản giữa bảo lãnh và các hình thức tín dụng khác của ngân hàng là ở hình thái giá trị tín dụng. Trong bảo lãnh, các ngân hàng không cấp tiền cho khách hàng, mà chỉ chuyển giao (thông qua văn bản) một lời cam kết bảo đảm cho đối tác của khách hàng (bên được bảo lãnh) hưởng thụ. Vì không thực hiện dưới dạng tiền tệ, nên khi phát hành lời cam kết này, các ngân hàng coi đó là hoạt động ngoại bảng (tài sản có rủi ro ngoại bảng).

Tuy nhiên những cam kết này đều tiềm ẩn trong đó một mức độ rủi ro nhất định. Đó là khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ của họ thì ngân hàng bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay, lúc này ngân hàng bảo lãnh bắt buộc phải xuất quỹ của mình và khoản trả thay này trở thành một khoản cho vay thực sự. Chính vì lẽ đó nên việc phát hành bảo lãnh ngân hàng cũng đưọc giới hạn chặt chẽ, tương tự như khi cho vay. Quy định hiện tại trong quyết định số 26 là số dư bảo lãnh của ngân hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng bảo lãnh.

Đối với các khách hàng được bảo lãnh, sự cam kết của ngân hàng tạo ra những thuận lợi cho họ về mặt ngân quỹ không khác gì cho vay. Chẳng hạn ngân hàng không cho khách hàng vay để thanh toán tiền hàng, nhưng sự cam kết bảo lãnh của ngân hàng với người bán có thể giúp cho người mua (bên được bảo lãnh) kéo dài thời gian trả chậm tiền hàng, điều này cũng có giá trị như cho khách hàng vay để thanh toán (trong bảo lãnh thanh toán).

Cũng tương tự như vậy với bảo lãnh tiền đóng thuế khi thông qua sự cam kết của ngân hàng, khách hàng sẽ được kéo dài thời gian nộp tiền thuế và điều này giúp cho họ thoát khỏi những căng thẳng nhất thời về ngân quỹ hoạt động.

Khái niệm cơ bản về Bảo lãnh ngân hàng – Bank Guarantee
Đánh Giá Bái Viết

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.