Khái niệm và Kỹ thuật cho vay trả góp

0

Cho vay trả góp được hiểu là khoản vay được cấp cho người tiêu dùng với điều kiện trả nợ gốc và lãi thành nhiều kỳ, phù hợp với tính chất nguồn thu nhập của người đi vay.

Đối tượng cho vay trả góp có thể là

  • Nhà ở, nền nhà, chi phí xây dụng/ sửa chữa nhà ở;
  • Chi phí mua phương tiện đi lại;
  • Chi phí mua các vật dụng gia đình;
  • Các chi phí sinh hoạt khác.

Khách hàng vay: thông thường các ngân hàng nghiên cứu thị trường mà mình hướng tới và có chính sách sản phẩm cho từng nhóm khách hàng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng thực tế và khả năng thanh toán của họ.

Thủ tục vay vốn: khách hàng vay vốn phải trình ngân hàng các loại giấy tờ sau

  • Giấy đề nghị vay vốn
  • Giấy chứng minh nhân dân/ hộ chiếu… và các giấy tùy thân để xác nhận nhân thân;
  • Hộ khẩu (nếu có)
  • Các giấy tờ minh chứng các nguồn thu nhập dùng để trả nợ
  • Các giấy tờ có liên quan tới khoản vay (hợp đồng, bảng báo giá…)
  • Các giấy tờ liên quan tới bảo đảm tiền vay (nếu có)

Thông thường ngân hàng qui định cụ thể giấy tờ cho mỗi loại cho vay với mục đích cụ thể. Thực tiễn cho thấy cho vay tiêu dùng hỗ trợ sinh hoạt tín chấp là có số giấy tờ đơn giản nhất.

Vay tiền mặt trả góp ở đâu thủ tục đơn giản nhất hiện nay?
Vay tiền mặt trả góp ở đâu thủ tục đơn giản nhất hiện nay?

Kỹ thuật cho vay trả góp

Xác định số tiền cho vay

Số tiền cho vay phụ thuộc vào loại tài sản/ chi phí mà ngân hàng tài trợ và chính sách của ngân hàng

* Tùy vào loại tài sản/chi phí mà qui mô cho vay có thể nhỏ hoặc vừa. Ví dụ như một công nhân có thể vay 10 triệu để mua xe, nhưng một khách hàng khác có thể được vay 500 triệu để mua căn hộ chung cư;

* Chính sách tín dụng của ngân hàng qui định mức tiền trả ban đầu tối thiểu của khách hàng đi vay và mức cho vay tối đa đối với từng loại khách hàng trong một loại hình cấp. Ví dụ một ngân hàng áp dụng chính sách khách hàng phải trả ban đầu tối thiểu là 30% chi phí mua một chiếc xe máy và mức cho vay tối đa là 25 triệu đồng.

Số tiền cho vay = nhu cầu vốn để thực hiện phương án vay – mức tiền trả ban đầu (không thấp hơn theo tỷ lệ trong chính sách tín dụng của ngân hàng) – nguồn khác (nếu có)

Ví dụ 8.1 khách hàng A có nhu cầu vay trả góp mua xe di lại với các dữ liệu ở bảng sau.

Bảng 8.1:

Giá tài sản cần mua:32.000.000 đồng
Tỷ lệ vốn ngân hàng tham gia so với giá tài sản:70%
Tỷ lệ vốn khách hàng tham gia so với giá tài sản:30%
Thời hạn vay:3 năm (36 tháng)
Định kỳ thanh toán tiền vay:Hàng tháng
Lãi suất:12%/năm

 

Trong tình huống trên thì

Chi phí mua tài sản 32.000.000 đồng

Số tiền trả ban đầu 9.600.000 đồng

Số tiền vay ngân hàng 22.400.000 đồng

Số tiền vay ngân hàng sẽ cấp là 22.4 triệu đồng và không vượt quá mức cho vay tối đa là 25 triệu đồng.

Nguồn trả nợ

Các khoản thu nhập thường xuyên, ổn định của khách hàng đi vay là nguồn trả nợ chính trong cho vay trả góp như:

  • Thu nhập từ lao động của người đi vay
  • Thu nhập của các thành viên trong gia đình góp vào (nếu có)
  • Thu nhập từ các tài sản hiện hữu (cho thuê tài sản, cổ tức, lãi tiền tiết kiệm…) (nếu có).

Thông thường ngân hàng qui định điều kiện về mức thu nhập tối thiểu của một cá nhân khi vay tiêu dùng trả góp. Mức thu nhập này thay đổi theo từng thời kì phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế đất nước. Như trong giai đoạn suy thoái, các quốc gia đều hướng tới siết chặt chính sách tiền tệ, thắt chặt tín dụng thì yêu cầu thu nhập tối thiểu của một khách hàng cá nhân hàng tháng có thể cao hơn bình thường.

Để đảm bảo khả năng trả nợ, các khoản thu nhập đầu tiên phải trang trải các chi tiêu thiết yếu như ăn ở, đi lại, học tập, chi phí y tế… rồi mới trả nợ ngân hàng. Vì vậy khách hàng được coi là có khả năng trá nợ khi tổng thu nhập mỗi kỳ không nhỏ hơn chi tiêu sinh hoạt trong kỳ cộng với nghĩa vụ trả nợ ngân hàng trong kì.

Các ngân hàng ở các nước phát triển thường qui định tỷ lệ trả nợ tối đa so với thu nhập, như tại Ngân hàng X qui định qui tắc 7/3,8/2 được hiểu mức cho vay tối đa là 70% nhu cầu, và số tiền thu nợ định kì tối đa là 80% thu nhập định kỳ của người tiêu dùng. Tại Việt nam do cơ cấu tiêu dùng của người dân phần lớn còn nặng cho chi phí thiết yếu (lương thực, thực phẩm) nên tỷ lệ có thể thấp hơn tùy thị phần của các ngân hàng.

Thời hạn cho vay cho vay trả góp

Phụ thuộc vào tính chất của nguồn trả nợ cũng như số tiền vay mà thời hạn cho vay có thể ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.Tín dụng tiêu dùng với ý nghĩa là khách hàng được ngân hàng tài trợ ứng trước tiêu dùng thay vì phải để dành trong một thời gian dài nhất định. Vì thế, các nhu cầu được ngân hàng tài trợ thường có thời gian trung hoặc dài hạn. Những khoản vay ngắn hạn trả góp thường qui mô vay nhỏ hơn so với nguồn trả nợ của người đi vay. Đối với các nhu cầu tiêu dùng khác nhau ngân hàng qui định thời hạn cho vay tối đa khác nhau. Ví dụ tại một ngân hàng qui định thời hạn cho vay mua xe máy tối đa là 5 năm, cho vay sinh hoạt là 3 năm.

Thời hạn cho vay =

(số tiền cho vay + lãi phải trả) / khả năng trả nợ định kỳ

Kỳ hạn trả nợ trong cho vay trả góp, nợ gốc và lãi được trả thành nhiều kỳ phụ thuộc vào tính chất của nguồn trả nợ. Đối với các khoản vay qui mô nhỏ của người lao động mà nguồn trả nợ chính là tiền lương/thu nhập từ lao động thì kỳ hạn là hàng tháng. Ngân hàng cũng qui định những kỳ hạn như hàng quí, 6 tháng cho những khoản nợ trung dài hạn.

Xác định số tiền trả định kỳ

– Trả gốc

A = V /n

Trong đó

A: Số tiền nợ gốc phải thanh toán định kỳ

V: Số tiền cho vay được nêu trong hợp đồng tín dụng

n: số kì hạn trong thời gian cho vay

– Trả lãi

Lãi phải trả ở mỗi kỳ phụ thuộc vào việc áp dụng phương pháp tính lãi, nên số lãi có thể trả khác nhau. Trong thực tế, có một số cách tính lãi phổ biến trong cho vay tiêu dùng như sau:

– Tính lãi theo số dư thực tế đầu kỳ (còn gọi là tính lãi theo số dư nợ giảm thực tế)

Theo cách này số tiền lãi phải trả sẽ giảm dần theo các kì và nhỏ nhất ở kỳ cuối cùng.

– Tính lãi theo phương pháp cộng thêm hay còn gọi phương pháp gộp (add-on method)

Theo cách này lãi sẽ được xác định cho cả một hợp đồng và sau đó phân bổ cho các kỳ hạn.

L = V x n x r

Trong đó:

– L: tổng lãi phải trả

– n: số kỳ hạn trả trong thời gian cho vay;

– r: lãi suất cho vay một kỳ hạn

Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiến hành phân bổ phân lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định kỳ gắn liền với các kỳ thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý hay theo năm tài chính. Tuy nhiên, việc phân bổ lãi cho vay theo năm tài chính thường được các ngân hàng áp dụng nhiều hơn. Các phương pháp phổ biến dùng để phân bổ lãi cho vay bao gồm:

+ Phương pháp đường thẳng (Straisht-line Method) hay còn được gọi là phương pháp tỷ lệ cố định (Pro Rata Method):

Theo phương pháp này, phần lãi cho vay được phân bổ ở mỗi kỳ tương ứng với tỷ trọng số tháng tính lãi trong kỳ đó so với toàn bộ số tháng tính lãi của thời hạn vay. I = L/n trong đó I là lãi trả định kỳ.

+ Phương pháp lãi suất hiệu dụng (Effective Yield Method):

Phương pháp này còn được gọi là phương pháp Quy tắc 78. Tên gọi “Qui tắc 78” (Rule of 78s) xuất phát từ kết quả tổng cộng của dãy số từ 1 tới 12, tượng trưng cho 12 kỳ trả góp của một khoản vay (1+2+3+4+5+6+7+8+9+10+11 + 12=78). Dù vậy, qui tắc này vẫn có thể áp dụng cho các khoản vay trả góp có số kỳ hạn khác với 12 kỳ.

Đây là phương pháp được ngân hàng sử dụng phổ biến nhất trong việc hạch toán phân bổ lãi của các khoản cho vay trả góp. Trở lại ví dụ 1:

– Trường hợp 1: Giả sử hợp đồng cho vay bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/1/200X, lãi cho vay được phân bổ như trong Bảng 7.2.

Bảng 8.2: Bảng phân bổ lãi

Đơn vị: đồng

NămTỷ lệ (%)Lãi cho vay (đồng)
200X(666-300)/666 = 54,964.431.974
200X+1(300-78)/666 = 33,332.687.731
200X+278/666 = 11,71944.295
Tổng100,008.064.000

– Trường hợp 2: Giả sử hợp đồng cho vay bắt đầu có hiệu lực đúng vào ngày 1 /7/200X thì tương tự trường hợp 1, lãi cho vay được phân bổ như trong Bảng 7.3.

Bảng 8.3: Bảng phân bổ lãi

Đơn vị: đồng

NămTỷ lệ (%)Lãi cho vay (đồng)
200X(666-465)/666 = 30,182.433.715
200X +1(465-171)/666 =44,153.560.256
200X +2(171-21)7666 = 22,521.816.013
200X +321/666 = 3,15254.016
Tổng100,008.064.000

Số tiền trả định kì là tổng số tiền gốc và lãi phải trả trong kỳ.

Giải ngân: hình thức giải ngân thường là tiền mặt. Tuy nhiên phụ thuộc vào loại tài sản và phương thức tổ chức cho vay mà có thể giải ngân thẳng cho nhà cung cấp hàng hóa/dịch vụ tiêu dùng (như cho vay trả góp gián tiếp, hợp đồng cho vay tiêu dùng thanh toán 3 bên…) hoặc giải ngân cho chính người vay.

Giám sát và thu nợ

Vấn đề trả nợ trước hạn:

Thông thường, người đi vay được quyền thanh toán tiền vay trước hạn mà không bị phạt gì cả. Nếu tiền trả góp được tính theo phương pháp lãi đơn và phương pháp hiện giá thì vấn đề rất đơn giản, người đi vay phải thanh toán toàn bộ vốn gốc còn thiếu và lãi vay của kỳ hạn hiện tại (nếu có) cho ngân hàng.

Tuy nhiên, nếu tiền trả góp được tính lãi bằng phương pháp gộp thì vấn đề có phần phức tạp hơn. Vì theo phương pháp gộp, lãi được tính dựa trên cơ sở giả định rằng tiền vay sẽ được khách hàng sử dụng cho đến lúc kết thúc hợp đồng, cho nên nếu khách hàng trả nợ trước hạn thì thời hạn nợ thực tế sẽ khác với thời hạn nợ giả định ban đầu và như vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi, trong thực tiền hoạt động cho vay tiêu dung, các ngân thường chào sản phẩm cho vay trả góp với các cách tính lãi khác nhau để khách hàng lựa chọn. Và để giảm thiểu tranh chấp đã qui định nếu áp dụng phương pháp gộp thì khách hàng cam kết không trả nợ sớm và nếu trả nợ sớm sẽ phải chịu phạt. Trong trường hợp này, ngân hàng thường áp dụng phương pháp phân bổ lãi theo đường thẳng khi ký kết hợp đồng tín dụng và áp dụng phương pháp phân bổ lãi cho vay dựa trên thời hạn nợ thực tế để truy thu. Phương pháp được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp quy tắc 78.

Cũng với Ví dụ 8.1 nói trên, giả sử mới hết 30 tháng người này đã thanh toán hết toàn bộ số nợ còn thiếu. Nếu vậy, vấn đề đặt ra là, đối với khoản vay này người vay phải thanh toán số tiền lãi là bao nhiêu cho thỏa đáng. Trong trường hợp đó, phương pháp qui tắc 78 được áp dụng để tính số lãi ngân hàng được hưởng như sau:

Số tiền này lớn hơn tổng số lãi đã thanh toán trong 30 tháng qua (30 = 806.4000/36 = 6720 ngàn đồng). Như vậy, khách hàng phải thanh toán thêm cho ngân hàng số tiền là: 7809730- 6720000= 774253 đồng.

Khái niệm và Kỹ thuật cho vay trả góp
Đánh Giá Bái Viết

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.