Các hình thức cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại

0

Để cho người đọc có thể hình dung một cách khái quát về các sản phẩm cấp tín dụng mà ngân hàng thương mại cung cấp cho các khách hàng của mình, phần này đi vào giới thiệu những đặc trưng cơ bản của các hình thức cấp tín dụng đang được quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam, bao gồm: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng và cho thuê tài chính.

1. Cho vay (Advance)

Khi nói đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, người ta thường nghĩ tới cho vay và đôi khi đồng nhất thuật ngữ “cho vay” với thuật ngữ “tín dụng”. Thực ra khái niệm cho vay hẹp hơn tín dụng. Như đã đề cập ở trên, tín dụng có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức mà cho vay chỉ là một trong các hình thức cấp tín dụng mà thôi. Theo quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng thì khái niệm cho vay được hiểu là:

Cho vay là một hình thúc cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi.

Từ khái niệm trên có thể nhận thấy một số đặc trưng cơ bản của cho vay như sau:

* Cho vay có hình thái tín dụng là tiền tệ.

Đây là điểm khác biệt với các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh hoặc cho thuê tài chính. Cho vay với hình thái tiền tệ được xem như một hình thức cấp tín dụng cổ điển của ngân hàng thương mại bởi vì nó xuất hiện từ rất sớm (ngay sau sự xuất hiện của chiết khấu). Với hình thái là tiền tệ, cho vay nhiều lợi thế hơn so với các hình thức tín dụng khác bởi vì nó có thể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội. Cho đến nay, mặc dù ngân hàng đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với sự xuất hiện của nhiều hình thức tín dụng khác nhau, cho vay vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao trong các loại hình tín dụng của ngân hàng.

* Bản chất của hành vi cho vay là ứng trước – Advance nên độ rủi ro cao

Trong cho vay, ngân hàng chuyển tiền cho khách hàng dựa trên một dự định, một ý tưởng kinh doanh khách hàng sắp thực hiện, hay nói khác đi là tiền được đưa ra khi người vay chưa / hoặc mới bắt đầu thực hiện ý định của mình. Việc cấp tín dụng được thực hiện sau khi ngân hàng xem xét, phân tích về tính khả thi, hiệu quả của ý tưởng, mục đích sử dụng tiền của khách hàng. Tuy nhiên trong thực tế từ ý tưởng cho đến hiện thực là một khoảng cách gian nan, không dễ gì rút ngắn. Có thể xuất hiện rất nhiều biến cố tác động làm cho ý tưởng, dự định đó không thành công và nguồn trả nợ không hình thành. Vì vậy, độ rủi ro của cho vay là cao hơn so với các hình thức tín dụng khác. Cứ thử hình dung trong trường hợp ngân hàng cho khách hàng vay để kinh doanh, tiền vay sẽ được khách hàng sứ dụng để mua vật tư, nguyên liệu, thanh toán các chi phí sản xuất… khi sản phẩm xuất bán và thu được tiền về khách hàng sẽ hoàn trả nợ. Trong quá trình kinh doanh nói trên, có rất nhiều rủi ro xảy ra từ khi khách hàng nhận tiền cho đến khi thực sự thu được hết nợ. Chẳng hạn: khách hàng không mua được vật tư do những biến động của thị trường nguyên liệu, khách hàng không sản xuất được do các điều kiện sản xuất thay đổi, khách hàng không bán được sản phẩm do người mua phá vỡ hợp đồng tiêu thụ, người mua nhận sản phẩm nhưng chậm/ không trả tiền… thậm chí kể cả việc khách hàng thay đổi mục đích sử dụng tiền ban đầu dẫn đến thất thoát tiền vay… Tất cả những biến cố đó có thể làm cho một khoản vay không được hoàn trả như thỏa thuận ban đầu. Điều tương tự cũng có thể xảy ra cho một khoản vay tiêu dùng khi người vay bị bệnh tật, tử vong, thất nghiệp, nguồn thu nhập giảm sút, ý muốn trả nợ thay đổi…và cuối cùng là khoản vay… một đi không trở lại. Ngược lại trong chiết khấu thương phiếu khách hàng đã sản xuất xong hàng hóa, đã chuyển giao cho người mua và chỉ còn chờ thu tiền về, tiền của ngân hàng đưa ra trong giai đoạn này sẽ có độ rủi ro thấp hơn.

Rủi ro của một khoản cho vay còn có nguyên nhân xuất phát từ hình thái giá trị tiền tệ của nó. Với chức năng là phương tiện thanh toán, tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích khác nhau cho mọi chủ thể trong nền kinh tế và trong xã hội. Chính do sự linh hoạt của mục đích sử dụng tiền nên thực sự rất khó kiểm soát khi tiền đã được chuyển vào tay khách hàng và đây có thể là một trong những lý do dẫn đến thất thoát tiền, không trả nợ được cho ngân hàng. Điều này hoàn toàn không trong trong cho thuê tài chính. Bởi vì trong hình thức cấp tín dụng bằng tài sản thực này, việc khách hàng sử dụng tiền vay sai mục đích được giảm thiểu đến mức thấp nhất, do tài sản đã được tổ chức tín dụng mua về theo sự lựa chọn của khách hàng và giao cho khách hàng quyền sử dụng.

Chính vì cho vay có độ rủi ro cao nên các ngân hàng thường áp dụng rất nhiều biện pháp đa dạng để tăng thêm độ an toàn cho ngân hàng khi cho vay, chẳng hạn quy định về mức vốn đối ứng của phương án vay, quy định về bảo đảm cho khoản vay, quy định quy trình giải ngân, giám sát khoản vay…Các quy định này không nhất thiết phải có trong các hình thức cấp tín dụng khác.

* Đối tượng cho vay phong phú.

Đây là điểm khác biệt với các hình thức cấp tín dụng còn lại. Đối tượng cho vay trả lời cho câu hỏi: ngân hàng cho vay cái gì? Sự phong phú đổi tượng cho vay xuất phát từ sự đa dạng về mục đích vay của khách hàng: có thể là vay để đầu tư xây dựng cơ bản, vay mua sắm máy móc thiết bị, vay kinh doanh, vay tiêu dùng, vay để hình thành nguồn vốn cho vay của các định chế tài chính khác… Những mục đích vay phong phú có thể dẫn đến những nhu cầu vay hết sức đa dạng về thời hạn, về quy mô…. nên phạm vi đối tượng cho vay của ngân hàng rất rộng lớn. Chẳng hạn đối với một khoản vay kinh doanh, đối tượng cho vay có thể bao gồm nhu cầu phát sinh trong các giai đoạn của một chu kỳ hoạt động: giai đoạn mua vào là nhu cầu thanh toán tiền vật tư hàng hóa, thuế nhập khẩu và các chi phí vận chuyến đi kèm, giai đoạn sản xuất có các chi phí tiền công, tiền lương, chi phí sản xuất bằng tiền, giai đoạn tiêu thụ là các chi phí bao bì đóng gói, chi phí bán hàng, chí phí tiêu thụ bàng tiền khác, giai đoạn thu tiền là giá trị các khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán… Trong khi đó một khoản vay với mục đích xây dụng cơ bản thì đối tượng cho vay có thể là các chi phí thanh toán vật liệu xây dựng, tiền công… phát sinh trong quá trình xây dựng công trình trung, dài hạn. Với mục đích vay tiêu dùng, đối tượng cho vay có thể là các chi phí thanh toán tiền mua tài sản giá trị lớn như nhà, đất, xe cộ, các vật dụng gia đình, thanh toán chi phí sinh hoạt như: tiền ăn ở, đi lại, học tập, chữa bệnh…

Trái ngược với sự đa dạng trong đối tượng cho vay, đối tượng cấp tín dụng trong chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính đều khá hạn hẹp và thường chỉ giới hạn trong một số phạm vi nhất định (mặc dù đối tượng khách hàng trong các hình thức cấp tín dụng này không kém phần phong phú). Chẳng hạn trong cho thuê tài chính, đối tượng cấp tín dụng chỉ xoay quanh các nhu cầu về tài sản cố định như máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ…với thời gian trung dài hạn. Trong hình thức bảo lãnh ngân hàng, đối tượng cấp tín dụng là nhu cầu tăng cường uy tín của khách hàng trong quan hệ với đối tác của họ, nhằm bảo đảm cho quan hệ giữa khách hàng và đối tác được thực hiện một cách suôn xẻ. Trong chiết khấu đối tượng cấp tín dụng là giá trị các khoản nợ phải thu chưa đến hạn…

* Kỹ thuật thực hiện cho vay đa dạng.

Có thể nói trong cho vay ngân hàng có rất nhiều cách thức để chuyển giao tiền cho khách hàng. Điều này được quy định trong các phương thức cho vay của ngân hàng. Theo đó mỗi phương thức cho vay là một tập hợp các kỹ thuật tác nghiệp cụ thể của ngân hàng khi thực hiện khoản vay, bao gồm kỹ thuật xác định mức cho vay, thời hạn vay, định kỳ hạn nợ, giải ngân thu nợ và xử lý nợ. Việc vận dụng phương thức cho vay nào là tuỳ thuộc vào quá trình tìm hiểu của ngân hàng về đặc điểm hoạt động, khả năng tài chính, về rủi ro đặc trưng của người vay… để từ đó chọn và áp dụng phương thức cho vay thích hợp, đảm bảo thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng và hiệu quả của vốn tín dụng. Theo quy định hiện nay (quy chế cho vay ban hành kèm quyết định số 1627/2001/QĐ –NHNN ngày 31/12/2001 và các văn bản sửa đổi bổ sung của ngân hàng Nhà nước) có 8 phương thức cho vay. Cụ thể như sau:

– Cho vay từng lần

– Cho vay theo hạn mức tín dụng

– Cho vay theo dự án đầu tư

– Cho vay trả góp

– Cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

– Cho vay hợp vốn

– Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng

– Cho vay theo hạn mức thấu chi

Chi tiết của các phương thức cho vay này sẽ lần lượt được nghiên cứu trong các chương kế tiếp.

Vay tiền online nhanh trong ngày thật dễ dàng với nhiều gói hỗ trợ

2. Chiết khấu (Discount)

So với cho vay, chiết khấu là hình thức cấp tín dụng lâu đời hơn của ngân hàng. Các ngân hàng thương mại đã thực hiện chiết khấu các giấy nợ cho khách hàng từ rất sớm, ngay khi thương phiếu (kỳ phiếu thương mại) xuất hiện ở châu Âu vào thế kỷ thứ 16. Trong thời điểm này, các hãng buôn ở Luân Đôn thường mua hàng và chuyển đi Đông Ấn (Ấn Độ), hàng hóa hầu hết là mua chịu và phát hành kỳ phiếu xác nhận nợ. Một chu kỳ chuyển hàng di phải 3 tháng sau mới thu được tiền về, nên các kỳ phiếu thường có thời hạn 3 tháng. Chiết khấu kỳ phiếu thương mại chính là cách thức phổ biến mà các ngân hàng thương mại ở đây tài trợ cho giao dịch này. Từ đó cho đến nay chiết khấu vẫn được sử dụng rất nhiều trên thế giới và được xem như một công cụ hỗ trợ cho quan hệ tín dụng thương mại phát triển. Sau này, do sự phát triển của nhiều loại giấy tờ có giá khác như trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi.. nên nghiệp vụ chiết khấu được mở rộng, không chỉ có chiết khấu thương phiếu. Theo quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam thì khái niệm chiết khấu như sau

Chiết khấu là hình thức cấp tín dụng qua đó tổ chức tín dụng mua lại các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán từ khách hàng

Nếu so sánh với cho vay thì chiết khấu cũng có hình thái tín dụng là tiền tệ, tuy nhiên kỹ thuật thực hiện có nhiều điểm khác biệt. Như đã đề cập ở trên, trong cho vay, cơ sở để ngân hàng cấp tín dụng chỉ là một ý tưởng, phương án/ dự án sắp thực hiện, khả năng thành công chưa rõ ràng, nhưng trong chiết khấu, khách hàng đang sở hữu một khoản nợ phải thu (trái quyền – Claim) chưa đến hạn và vì nhu cầu cần tiền ngay nên khách hàng nhượng khoản phải thu đó cho ngân hàng để thu tiền về trước hạn. Việc cấp tín dụng dựa trên một khoản nợ phải thu đã hình thành, rõ ràng độ rủi ro thấp hơn so với một khoản ứng trước, nhất là khi khoản phải thu đó hình thành trên cơ sở hàng hoá bán chịu (trong chiết khấu thương phiếu).

Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ phải thu có thể phân biệt chiết khấu thành hai loại chủ yếu là: chiết khấu thương phiếu và chiết khấu giấy tờ có giá khác. Đối tượng cấp tín dụng trong hai loại này có sự khác biệt. Trong chiết khấu thương phiếu đối tượng cấp tín dụng là khoản nợ phải thu hình thành trong thương mại, thể hiện trong thương phiếu, bộ chứng từ hàng hoá. Còn trong chiết khấu giấy tờ có giá khác, đối tượng chiết khấu là các khoản nợ phải thu phi thương mại, thể hiện trên các loại giấy nợ như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng… thường hình thành trong quan hệ vay mượn đa dạng giữa tổ chức tín dụng, các pháp nhân kinh tế, Chính phủ với dân chúng.

Hình 1.1: Sơ đồ chiết khấu chương phiếu

Quy trình chiết khấu thương phiếu được thực hiện như sau:

1) Giao dịch hàng hóa/ dịch vụ phát sinh thương phiếu

2) Người bán mang thương phiếu đến ngân hàng chiết khấu

3) Ngân hàng tính toán và chuyển tiền cho người bán

4) Ngân hàng thu hồi giá trị thương phiếu khi đến hạn

Chiết khấu được xem như một hình thức cấp tín dụng gián tiếp, thực chất chiết khấu là việc ngân hàng tái tài trợ cho một quan hệ tín dụng đã hình thành trước đó, mà trong quan hệ tín dụng này, người đề nghị chiết khấu là chủ nợ, đã tài trợ vốn thông qua việc bán hàng hoá (nếu giấy nợ là thương phiếu) hoặc cho vay tiền, gửi tiền (nếu giấy nợ là các loại giấy tờ có giá khác). Như vậy, trong chiết khấu, ngân hàng chuyển tiền/ giải ngân cho một người (người chiết khấu) và thu nợ từ một người khác (người phải thanh toán khi đáo hạn). Theo quy định của pháp luật về chuyển nhượng các quyền đòi nợ thì người chuyển nhượng khoản nợ phải thu (ở đây là người chiết khấu) phải có trách nhiệm trong việc thanh toán nếu khoản nợ không được trả khi đáo hạn. Chính quy định pháp lý này làm giảm rủi ro cho ngân hàng trong chiết khấu. Bởi lẽ ngân hàng có thể truy đòi theo quy định của luật pháp nếu người mắc nợ không trả được, nói rõ hơn, chiết khấu là hình thức mua bán nợ có truy đòi và đây là lý do để đảm bảo khả năng thanh toán cho khoán nợ trong chiết khấu.

3. Bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee)

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng xuất hiện từ những năm 60 thế kỷ 20 trong thị trường nội địa nước Mỹ. Sau đó vào đầu những năm 70, bảo lãnh được phổ biến trong thương mại quốc tế, trong mối quan hệ giữa các nước phương Tây và các nước sản xuất dầu mỏ Trung Đông. Tại Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng xuất hiện trong thời kỳ đầu những năm 90, chủ yếu giới hạn trong loại hình bảo lãnh vay nợ. Cho tới khi quyết định số 196/QĐ-NHNN ngày 16/9/1994 của ngân hàng Nhà nước được ban hành, các hình thức bảo lãnh ngân hàng mới được đưa ra khá đa dạng. Sự phát triển của nền kinh tế cùng với các hoạt động xuất nhập khẩu, các giao dịch hợp đồng trong và ngoài nước… đã tạo môi trường thuận lợi cho quá trình mở rộng bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam. Sau khi Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực, ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 kèm theo quy chế bảo lãnh ngân hàng. Đến năm 2006 hành lang pháp lý cho bảo lãnh ngân hàng một lần nữa thay đổi với sự ra đời của quyết định 26/2006/QĐ-NHNN, ngày 26/06/2006, thay thế cho quyết định 283 sau gần 6 năm thực hiện.

Như đã đề cập ở trên, bảo lãnh là một trong các loại hình tín dụng chữ ký của ngân hàng. Theo quy định trong luật, khái niệm bảo lãnh ngân hàng như sau:

Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng/ tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng/ tổ chức tín dụng số tiền đã trả thay.

Sự khác biệt căn bản giữa bảo lãnh và các hình thức tín dụng khác của ngân hàng là ở hình thái giá trị tín dụng. Trong bảo lãnh, các ngân hàng không cấp tiền cho khách hàng, mà chỉ chuyển giao (thông qua văn bản) một lời cam kết bảo đảm cho đối tác của khách hàng (bên được bảo lãnh) hưởng thụ. Vì không thực hiện dưới dạng tiền tệ, nên khi phát hành lời cam kết này, các ngân hàng coi đó là hoạt động ngoại bảng (tài sản có rủi ro ngoại bảng). Tuy nhiên những cam kết này đều tiềm ẩn trong đó một mức độ rủi ro nhất định. Đó là khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ của họ thì ngân hàng bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay, lúc này ngân hàng bảo lãnh bắt buộc phải xuất quỹ của mình và khoản trả thay này trở thành một khoản cho vay thực sự. Chính vì lẽ đó nên việc phát hành bảo lãnh ngân hàng cũng đưọc giới hạn chặt chẽ, tương tự như khi cho vay. Quy định hiện tại trong quyết định số 26 là số dư bảo lãnh của ngân hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng bảo lãnh.

Đối với các khách hàng được bảo lãnh, sự cam kết của ngân hàng tạo ra những thuận lợi cho họ về mặt ngân quỹ không khác gì cho vay. Chẳng hạn ngân hàng không cho khách hàng vay để thanh toán tiền hàng, nhưng sự cam kết bảo lãnh của ngân hàng với người bán có thể giúp cho người mua (bên được bảo lãnh) kéo dài thời gian trả chậm tiền hàng, điều này cũng có giá trị như cho khách hàng vay để thanh toán (trong bảo lãnh thanh toán). Cũng tương tự như vậy với bảo lãnh tiền đóng thuế khi thông qua sự cam kết của ngân hàng, khách hàng sẽ được kéo dài thời gian nộp tiền thuế và điều này giúp cho họ thoát khỏi những căng thẳng nhất thời về ngân quỹ hoạt động.

4. Cho thuê tài chính (Financial Lease /Capital Lease)

Cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ vốn ra đời vào năm 50 tại Mỹ, sau đó thâm nhập vào châu Âu những năm 60 và hiện nay được áp dụng rất rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam cho thuê tài chính được du nhập vào từ những năm đầu của thập niên 90. Vào thời điểm này, nền kinh tế Việt Nam đang ở trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường với sự ra đời của nhiều thành phần kinh tế ngoài sở hữu Nhà nước. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập thì thiếu vốn, doanh nghiệp sở hữu Nhà nước thì máy móc già cỗi, lạc hậu, không đáp ứng cho nhu cầu cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh đó cho thuê tài chính với những lợi thế về việc tài trợ trực tiếp bằng tài sản, không cần có tài sản bảo đảm, tỷ lệ vốn tài trợ cao (100% nhu cầu không cần có vốn đối ứng tham gia), phương thức thanh toán linh hoạt, thời gian tài trợ phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng…được xem là giải pháp tài trợ thích hợp, thay thế cho hình thức cho vay trung dài hạn truyền thống các ngân hàng đang áp dụng.

Hành lang pháp lý cho hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam được mở ra kể từ quyết định 64/CP ngày 9/10/1995 của Chính phủ” Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, sau đó là nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính; nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/05/2005 sửa đổi bổ sung nghị định 16. Cho đến nay, cho thuê tài chính vẫn ngày càng phát triển theo sự mở rộng của các công ty cho thuê tài chính. Tính đến đầu năm 2009 số lượng các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam là 13 công ty trong đó có 3 công ty là 100% vốn nước ngoài.

Theo quy định trong luật Các tổ chức tín dụng, cho thuê tài chính được hiểu như sau:

Cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, được thực hiện thông qua một hợp đồng cho thuê tài sản, Theo đó bên cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên đi thuê sử dụng. Bên đi thuê có trách nhiệm hoàn trả tiền thuê (gồm gốc và phí) trong suốt thời gian thuê.

So sánh với hình thức cho vay, đối tượng cấp tín dụng trong cho thuê tài chính hẹp hơn, chỉ xoay quanh những tài sản cố định, bao gồm nhà xưởng máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất…. Khi một doanh nghiệp cần vốn trung dài hạn để thay thế tài sản cố định, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai hình thức: vay vốn ngân hàng để mua tài sản (cho vay theo dự án đầu tư / cho vay trung dài hạn) hoặc là ký hợp đồng thuê tài sản dài hạn để sử dụng (cho thuê tài chính). Mỗi hình thức tín dụng có một lợi thế riêng và lựa chọn hình thức nào cho thích hợp đòi hỏi khách hàng phải hiểu rõ đặc điểm của từng hình thức, khả năng tài chính cũng như đặc điểm kinh doanh của mình. Ở đây vai trò tư vấn của ngân hàng có tầm quan trọng không nhỏ.

Đối với ngân hàng, việc cấp tín dụng trực tiếp bằng tài sản thực mang lại những lợi thế nhất định. Đó là việc giảm rủi ro sử dụng sai mục đích từ phía khách hàng. Với quyền của chủ sở hữu tài sản, ngân hàng có thể kiểm tra, giám sát chặt chẽ tài sản thuê trong qúa trình sử dụng và đưa ra hiện pháp xử lý kịp thời khi khách hàng vi phạm những cam kết trong hợp đồng.

Tóm lại: tín dụng ngân hàng là một trong các hình thức tín dụng của nền kinh tế, tuy nhiên đó là một hình thức tín dụng chiếm ưu thế. Tín dụng ngân hàng có những đặc trưng riêng biệt so với các hình thức tín dụng khác trên các điểm: hình thái giá trị tín dụng, độ rủi ro… Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định có 4 hình thức cấp tín dụng chủ yếu là cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng và cho thuê tài chính. Các hình thức này được xem như những sản phẩm tín dụng riêng biệt mà ngân hàng có thể cung cấp cho các khách hàng của mình. Sự khác biệt căn bản giữa các hình thức tín dụng này là hình thái giá trị tín dụng, đối tượng cấp tín dụng, kỹ thuật cấp tín dụng và mức độ rủi ro cho ngân hàng. Sự lựa chọn hình thức cấp tín dụng xuất phát từ việc tìm hiểu nhu cầu, đặc điểm hoạt động của khách hàng, đặc tính của từng hình thức cấp tín dụng, sao cho đảm bảo thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân hàng.

Các hình thức cấp tín dụng tại các ngân hàng thương mại
51 vote

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.