Các biện pháp giám sát trong quá trình cho vay theo hạn mức tín dụng

0

Trong quá trình giám sát giải ngân, dư nợ luôn được khống chế trong phạm vi hạn mức tín dụng, nhưng do đặc điểm thu nợ không có kỳ hạn cụ thể như đã nêu trên, dễ dẫn đến sự lạm dụng từ phía khách hàng. Để khắc phục điều này, ngân hàng có thể áp dụng một trong các biện pháp giám sát sau:

Thứ nhất: Quy định doanh số trả nợ theo định kỳ

Biện pháp này thường áp dụng với các doanh nghiệp có nguồn thu diễn ra đều đặn, kinh doanh ổn định không theo thời vụ. Căn cứ vào kế hoạch bán hàng, có thể xác định doanh số tối thiếu phải nộp vào tài khoản theo định kỳ (ví dụ hàng tháng/ quý). Do việc nộp vào tài khoản làm giảm dư nợ, nên đây chính là doanh số trả nợ. Nếu doanh nghiệp không thực hiện được coi như vi phạm và phải chịu phạt chậm trả. Trong cho vay sử dụng thẻ tín dụng đối với cá nhân, các ngân hàng cũng thường áp dụng biện pháp này.

Thứ hai: Quy định các mức dư nợ giảm thấp

Mức dư nợ giảm thấp được hiểu là các mức dư nợ thấp hơn hạn mức tín dụng, được ngân hàng xác định tại các thời điểm nhất định. Đây là biện pháp giám sát thường sử dụng với các doanh nghiệp hoạt động theo thời vụ. Sau thời điểm dư nợ vay lên đến đỉnh (bằng hạn mức tín dụng) là thời kỳ doanh nghiệp bán ra, nguồn thu xuất hiện và nhu cầu giải ngân giảm / không xuất hiện, dư nợ tài khoản sẽ giảm dần đi. Tại khoảng thời gian này, các mức dư nợ giảm thấp được xác định nhằm khống chế dư nợ tài khoản theo diễn biến phù hợp với việc bán hàng, tạo điều kiện đạt mức dư nợ bằng 0 khi chấm dứt hợp đồng tín dụng.

Thứ ba: Quy định kỳ hạn trả cụ thể cho mỗi lần giải ngân

Biện pháp này là sự vận dụng kỹ thuật thu nợ trong cho vay từng lần vào phương pháp cho vay theo hạn mức. Trên thực tế, hiện nay các ngân hàng Việt Nam thường xem đây là biện pháp để giám sát việc thu nợ của khách hàng trong cho vay hạn mức. Tuy nhiên biện pháp này sẽ rất khó thực hiện khi mà nhu cầu giải ngân diễn ra liên tục, các kỳ hạn nợ thiết lập sẽ dày đặc. Mặt khác cơ sở để dự kiến kỳ hạn nợ cụ thể cho mỗi lần giải ngân là rất khó xác định. Một số ngân hàng dựa vào chu kỳ ngân quỹ để xác định kỳ hạn cho từng giấy nhận nợ khi giải ngân, một số ngân hàng khác thì dựa vào nguồn thu dự kiến do doanh nghiệp báo cáo vào lúc giải ngân để định kỳ hạn nợ. Nhìn chung cơ sở của việc định kỳ hạn nợ cụ thể trong cho vay hạn mức là không chắc chắn, phần nhiều xuất phát từ chủ quan của ngân hàng cho vay, gây khó khăn cho phía doanh nghiệp.

Thứ tư: Xác định vòng quay vốn tín dụng phù hợp với vòng quay ngân quỹ

Thực chất của biện pháp này là nhằm khống chế khoảng thời gian vay trả (thời gian thực hiện một vòng quay vốn vay) phù hợp với chu kỳ ngân quỹ của khách hàng. Sẽ là không hợp lý nếu như số ngày của một vòng quay vốn vay vượt khỏi số ngày của một vòng quay ngân quỹ (chu kỳ ngân quỹ) tại doanh nghiệp. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ áp dụng phạt chậm trả đối với doanh nghiệp khi thanh lý hợp đồng tín dụng, hoặc nặng hơn có thể yêu cầu chuyển sang một phương thức cho vay khác, hay chấm dứt quan hệ tín dụng. Việc quy định một khoảng thời gian tối đa cho những biến động nợ có trên tài khoản vãng lai/ tài khoản vay cũng là cách giám sát tương tự như vòng quay vốn tín dụng.

Những biện pháp giám sát trên đây được các ngân hàng áp dụng tùy thuộc tính chất của từng doanh nghiệp. Chúng được ghi vào hợp đồng tín dụng và là căn cứ để xử lý khi một trong các bên vi phạm.

Các biện pháp giám sát trong quá trình cho vay theo hạn mức tín dụng
Đánh Giá Bái Viết

Để lại một trả lời

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công bố.